Nghĩa trang Liệt sĩ
Việt – Lào

10809+hồ sơ đang được lưu trữ

Danh sách liệt sĩ

10809 hồ sơ

Xem danh sách liệt sĩ
Bước vào hành trình
toàn cảnh 360°
Bắt đầu tham quan

Một hành trình được tiếp nối qua nhiều thế hệ

  1. 1945
    Khởi đầu quan hệ hợp tác

    Hai chính phủ ký Hiệp định hợp tác tương trợ Việt – Lào, đặt nền móng cho liên minh giữa hai dân tộc.

  2. 1976
    Khởi dựng nghĩa trang

    Một công trình đặc biệt được xây dựng, mang tên cả Việt Nam và Lào.

  3. 1982
    Đưa các anh về đất Mẹ

    Việc quy tập hài cốt liệt sĩ hy sinh tại Lào về Nghĩa trang Việt – Lào được triển khai.

  4. 2008
    Tôn tạo không gian tưởng niệm

    Nghĩa trang được tôn tạo, trở thành điểm đến của thân nhân và đồng bào cả nước.

  5. Hôm nay
    Gìn giữ ký ức bằng công nghệ

    8Tech số hóa dữ liệu và xây dựng trải nghiệm tra cứu miễn phí, góp thêm một nhịp cầu tri ân.

LỜI NHẮN GỬI HAI DÂN TỘC“Việt – Lào hai nước chúng taTình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.”— Chủ tịch Hồ Chí Minh

Một di tích lưu giữ ký ức chung

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào là di tích đặc biệt mang tên cả hai quốc gia. Đây vừa là nơi an nghỉ của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào, vừa là biểu tượng của tình đoàn kết được thử thách bằng máu, tuổi trẻ và lòng thủy chung.

Cổng Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào
01Cổng Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào
TỪ LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU

Giúp bạn
là tự giúp mình

Từ những ngày đầu của liên minh Lào – Việt, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh cùng nhân dân Lào trên khắp Thượng, Trung và Hạ Lào. Họ vừa chiến đấu, vừa xây dựng chính quyền kháng chiến, bảo vệ vùng giải phóng và phát triển lực lượng.

“Phải biết yêu thương sông núi, cỏ cây, nhân dân Lào như yêu thương chính cỏ cây, sông núi, nhân dân Tổ quốc Việt Nam.”

Hàng ngàn người đã rời quê hương với tinh thần quốc tế trong sáng. Nhiều người mãi mãi nằm lại trên đất bạn; sự hy sinh ấy trở thành một phần di sản chung của hai dân tộc.

Các phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang Việt – LàoCác anh nằm giữa lòng đất Mẹ
HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ

Gần 11.000 phần mộ trên diện tích 7 ha

Từ năm 1982, hài cốt các liệt sĩ hy sinh tại Lào được đưa về nghĩa trang quy tập. Nơi đây đón những người con từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang và nhiều tỉnh thành trên cả nước.

5.381mộ tại 9 lô khu A
5.219mộ tại 13 lô khu B
11mộ trong một lô tử sĩ
~6.900phần mộ chưa rõ tên, quê

Các đội quy tập thuộc Quân khu IV vẫn bền bỉ tìm kiếm đồng đội trên đất Lào. Có những người không còn đủ thông tin danh tính, nhưng khi trở về đất Mẹ, họ không bao giờ là những người vô danh.

BÀI PHÚ 408 CHỮ

Khắc bằng hai ngôn ngữ Việt – Lào

Giáo sư Phan Ngọc đã gửi tình cảm thủy chung ấy vào bài phú khắc trên bia đá bằng tiếng Việt và tiếng Lào. Đây là toàn văn phần tiếng Việt được lưu giữ tại nghĩa trang.

“Tình đoàn kết ấy dòng Cửu Long bao la,
nghĩa thủy chung này dải Trường Sơn vững chãi…”
VĂN BIA

NGHĨA TRANG LIỆT SỸ VIỆT LÀO

Nhân dân Việt Nam, hào kiệt giống nòi, hiên ngang đất tổ.
Hoà bình, độc lập, lẽ sống muôn đời; dân chủ, tự do, ước mơ vạn thuở.

Gặp thời đen tối, hai nước Việt - Lào, ách nô lệ đọa đày; được Đảng sáng soi một cõi Đông Dương cứu nguy vạch rõ.
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dựng nước, bọn thực dân, đế quốc kinh hồn; Lào - Itxala độc lập xây dựng nên, lũ thổ phỉ ngụy quyền hoảng sợ.

Chiếm Lào để chiếm Việt, thực dân Pháp trăm mưu nghìn kế, ách áp bức hòng tái lập nặng nề; giúp bạn chính giúp mình, nhân dân ta cả nước một lòng, xiềng nô lệ quyết phen này xoá bỏ.

Quân dân ta lên đường, xa gia đình, Tổ quốc, chân sát vai đồng, Việt - Lào chung sức chiến đấu, dầu kẻ hy sinh, vì tự do, hạnh phúc, gan vàng dạ ngọc quốc tế một lòng ủng hộ, ngại gì gian khổ.

Mất Thượng Lào, bỏ Xiêng Khoảng, thực dân Pháp đành tháo chạy, kéo tay sai, lập đồng minh, đế quốc Mỹ phải rút lui.

Cho hay trọng pháo, xe tăng, pháo đài bay, bom bi tọa độ không thắng được ý chí độc lập tự do; mới biết vũ khí, đô la, lửa Napan, thuốc độc da cam cũng phải thua khát vọng hoà bình dân chủ.

Máu hòa vào máu, Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Thà Khẹt ta cùng bạn hy sinh, xương lẫn với xương, Át - Tô - Pơ, Khăm Muội, Viên Chăn, bạn cùng ta quyết tử.

Tình đoàn kết ấy dòng Cửu Long bao la,
nghĩa thủy chung này dải Trường Sơn vững chãi.

Hàng vạn người ngã xuống cho hai nước đứng lên; năm mươi năm trôi qua để triệu nhà mong nhớ.

Đồng đội đi tìm nào quản đèo thẳm sông sâu, nhân dân dò kiếm chẳng kể rừng xanh núi đỏ.

Mường Sài, Cánh Đồng Chum, Át - Tô - Pơ tượng đài vòi vọi nhắc nghĩa ngàn thu; Lai Châu, Liên khu Năm, tỉnh Nghệ An nghĩa trang uy nghi ghi công vạn thuở.

Tại nghĩa trang Anh Sơn này, thênh thang sáu vạn thước vuông, ôm ấp mười nghìn phần mộ.

Ngày ngày người lại qua, đêm đêm trăng mờ tỏ.
Đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình dân đền ơn đáp nghĩa.
Vậy nên; dựng bia ghi công đức, tưởng nhớ mãi muôn đời,

SOẠN THẢOGIÁO SƯ PHAN NGỌC
Bia tưởng niệm bằng tiếng Việt tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào
BẢN KHẮC TIẾNG VIỆTVăn bia Nghĩa trang Liệt sĩ Việt – Lào
Bia tưởng niệm bằng tiếng Lào tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào
BẢN KHẮC TIẾNG LÀOBia tưởng niệm tình đoàn kết Việt – Lào

Dù có tên trên bia đá hay không,
các anh vẫn mãi được ghi nhớ

Các anh nằm đây giữa lòng đất Mẹ. Trên bia đá có thể là một tên tuổi đầy đủ, cũng có thể chỉ còn dòng chữ “Liệt sĩ chưa rõ họ tên”, nhưng Tổ quốc không quên bất kỳ ai.

“Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Tổ quốc không đánh mất tên Anh
Chỉ lặng thầm nhận về mình nỗi đau xanh cùng năm tháng.”
— Văn Hiền, “Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh”