Một nghĩa trang
mang tên hai dân tộc
Nơi gần 11.000 người con Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh trên đất bạn Lào trở về an nghỉ giữa lòng đất Mẹ.
Khám phá câu chuyện ↓“Việt – Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.”
Một di tích lưu giữ ký ức chung
Trên dải đất Việt Nam và đất nước Triệu Voi có nhiều địa danh lưu dấu mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc. Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào là một công trình đặc biệt trong số đó — di tích duy nhất vinh dự mang tên của cả hai quốc gia.
Nơi đây không chỉ là chốn an nghỉ của những người lính tình nguyện và chuyên gia Việt Nam, mà còn là biểu tượng của một tình đoàn kết đã được thử thách bằng máu, bằng tuổi trẻ và lòng thủy chung son sắt.

Giúp bạn
là tự giúp mình
Ngày 4/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Hoàng thân Xuphanuvông tại Hà Nội. Ngày 30/10 cùng năm, Chính phủ Lào Ít-xa-la và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký “Hiệp định hợp tác tương trợ Việt – Lào”, đồng thời thành lập Liên quân Lào – Việt. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên cho liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc với tư cách hai nhà nước.
Năm 1948, Đội liên quân Việt – Lào gồm 240 người vượt biên giới vào Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Đến ngày 30/10/1949, các lực lượng Việt Nam chiến đấu, công tác giúp Lào chính thức mang danh nghĩa Quân tình nguyện.
“Phải biết yêu thương sông núi, cỏ cây, nhân dân Lào như yêu thương chính cỏ cây, sông núi, nhân dân Tổ quốc Việt Nam.”
Suốt hai cuộc kháng chiến, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam sát cánh cùng nhân dân Lào, vừa chiến đấu, vừa xây dựng chính quyền kháng chiến, bảo vệ vùng giải phóng và phát triển lực lượng trên khắp Thượng, Trung và Hạ Lào. Hàng ngàn người đã rời quê hương với tinh thần quốc tế trong sáng; nhiều người mãi mãi nằm lại trên đất bạn.
“Mồ hôi, xương máu của chiến sĩ và chuyên gia Việt Nam hòa quyện cùng xương máu, mồ hôi của chiến sĩ và nhân dân Lào… một di sản vô cùng quý giá của hai dân tộc.”
Các anh nằm giữa lòng đất MẹGần 11.000 phần mộ trên diện tích 7 ha
Để tri ân những người lính đã hy sinh vì độc lập của hai đất nước, nghĩa trang được xây dựng từ năm 1976, nằm sát Quốc lộ 7 trên đường lên cửa khẩu Nậm Cắn. Năm 1982, hài cốt các liệt sĩ hy sinh tại Lào bắt đầu được đưa về đây quy tập.
Hằng năm, các đội quy tập thuộc Quân khu IV vẫn bền bỉ đi qua Trường Sơn, Thượng Lào, Sa-va-na-khẹt và nhiều vùng đất khác để tìm kiếm đồng đội. Có những người đã không còn tên, nhưng khi trở về đất Mẹ, họ không bao giờ là những người vô danh.
Từ nhiều miền quê,
cùng một lý tưởng
Bên cạnh các liệt sĩ quê Nghệ An, nơi đây còn đón những người con của Thanh Hóa, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang và nhiều tỉnh thành trên cả nước. Tất cả đã mang tuổi trẻ cống hiến cho đất nước bạn — cũng là một cách bảo vệ Tổ quốc mình.
Từ năm 2008, nghĩa trang được tôn tạo và trở thành chốn đi về của thân nhân liệt sĩ, đồng bào cả nước. Mỗi năm, hàng vạn lượt người đến đây thắp hương, tưởng nhớ những người đã hy sinh cho hai dân tộc.
Khắc bằng hai ngôn ngữ Việt – Lào
Giáo sư Phan Ngọc đã gửi tình cảm thủy chung ấy vào bài phú khắc trên bia đá bằng tiếng Việt và tiếng Lào. Những câu chữ kể lại một thời máu và xương hòa chung trên các chiến trường Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Thà Khẹt, Át-tô-pơ, Khăm Muộn, Viêng Chăn.
“Tình đoàn kết ấy dòng Cửu Long bao la,
nghĩa thủy chung này dải Trường Sơn vững chãi…”


Dù có tên trên bia đá hay không,
các anh vẫn mãi được ghi nhớ
Các anh nằm đây giữa lòng đất Mẹ. Trên bia đá có thể là một tên tuổi đầy đủ, cũng có thể chỉ còn dòng chữ “Liệt sĩ chưa rõ họ tên”, nhưng Tổ quốc không quên bất kỳ ai.
“Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh— Văn Hiền, “Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh”
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Tổ quốc không đánh mất tên Anh
Chỉ lặng thầm nhận về mình nỗi đau xanh cùng năm tháng.”
Nội dung và hình ảnh tư liệu được biên tập từ nguồn công khai của Ban Quản lý Nghĩa trang Liệt sĩ Việt – Lào. Trình bày lại bởi 8Tech cho dự án cộng đồng phi lợi nhuận.